Trans-Alaska Pipeline System

Hệ thống Đường ống Xuyên Alaska ( TAPS ) là một hệ thống vận chuyển dầu trải dài khắp Alaska, bao gồm đường ống dẫn dầu thô xuyên Alaska, 11 trạm bơm, vài trăm hàng dặm đường ống trung chuyển, và Cảng hàng hải Valdez. TAPS là một trong những hệ thống đường ống lớn nhất thế giới. Nó thường được gọi là đường ống Alaska , đường ống xuyên Alaska hoặc đường ống Alyeska , (hoặc đường ống như được nhắc đến ở Alaska), nhưng những điều khoản đó về mặt kỹ thuật chỉ áp dụng cho 800 dặm (1.287 km) của đường ống có đường kính 48 inch (1,22 m) vận chuyển dầu từ Vịnh Prudhoe đến Valdez, Alaska. Đường ống dẫn dầu thô thuộc sở hữu tư nhân của Công ty Dịch vụ Đường ống Alyeska.

Đường ống được xây dựng từ năm 1975 đến năm 1977, sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 khiến giá dầu ở Hoa Kỳ tăng mạnh. Sự gia tăng này làm cho việc thăm dò mỏ dầu Vịnh Prudhoe trở nên khả thi về mặt kinh tế. Các cuộc tranh luận về môi...Xem thêm

Hệ thống Đường ống Xuyên Alaska ( TAPS ) là một hệ thống vận chuyển dầu trải dài khắp Alaska, bao gồm đường ống dẫn dầu thô xuyên Alaska, 11 trạm bơm, vài trăm hàng dặm đường ống trung chuyển, và Cảng hàng hải Valdez. TAPS là một trong những hệ thống đường ống lớn nhất thế giới. Nó thường được gọi là đường ống Alaska , đường ống xuyên Alaska hoặc đường ống Alyeska , (hoặc đường ống như được nhắc đến ở Alaska), nhưng những điều khoản đó về mặt kỹ thuật chỉ áp dụng cho 800 dặm (1.287 km) của đường ống có đường kính 48 inch (1,22 m) vận chuyển dầu từ Vịnh Prudhoe đến Valdez, Alaska. Đường ống dẫn dầu thô thuộc sở hữu tư nhân của Công ty Dịch vụ Đường ống Alyeska.

Đường ống được xây dựng từ năm 1975 đến năm 1977, sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 khiến giá dầu ở Hoa Kỳ tăng mạnh. Sự gia tăng này làm cho việc thăm dò mỏ dầu Vịnh Prudhoe trở nên khả thi về mặt kinh tế. Các cuộc tranh luận về môi trường, luật pháp và chính trị diễn ra sau khi phát hiện ra dầu tại Vịnh Prudhoe vào năm 1968, và đường ống chỉ được xây dựng sau khi cuộc khủng hoảng dầu gây ra việc thông qua luật được thiết kế để loại bỏ các thách thức pháp lý đối với dự án.

Trong quá trình xây dựng đường ống, các kỹ sư đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, chủ yếu xuất phát từ cái lạnh khắc nghiệt và địa hình hiểm trở, cô lập. Việc xây dựng đường ống là một trong những dự án quy mô lớn đầu tiên nhằm giải quyết các vấn đề do lớp băng vĩnh cửu gây ra, và các kỹ thuật xây dựng đặc biệt đã phải được phát triển để đối phó với mặt đất đóng băng. Dự án đã thu hút hàng chục nghìn công nhân đến Alaska, gây ra bầu không khí bùng nổ ở Valdez, Fairbanks và Anchorage.

Thùng dầu đầu tiên đi qua đường ống vào mùa hè năm 1977, với quy mô sản xuất đầy đủ vào cuối năm. Một số sự cố đáng chú ý về rò rỉ dầu đã xảy ra kể từ đó, bao gồm cả những sự cố gây ra bởi sự phá hoại, lỗi bảo dưỡng và lỗ đạn. Tính đến năm 2015, nó đã vận chuyển hơn 17 tỷ thùng (2,7 × 10 9 m 3 ) dầu. Đường ống đã được chứng minh có khả năng cung cấp hơn 2 triệu thùng dầu mỗi ngày nhưng hiện nay thường hoạt động ở mức công suất tối đa. Nếu dòng chảy bị dừng hoặc thông lượng quá ít, đường truyền có thể bị đóng băng. Đường ống có thể được mở rộng và được sử dụng để vận chuyển dầu được sản xuất từ u200bu200bcác dự án khoan được đề xuất gây tranh cãi ở Khu bảo tồn Động vật Hoang dã Quốc gia Bắc Cực (ANWR) gần đó.

Photographies by:
upload by Adrian Michael - CC BY-SA 3.0
Statistics: Position
2304
Statistics: Rank
55134

Viết bình luận

CAPTCHA
Security
568179423Click/tap this sequence: 6412
Câu hỏi này dùng để kiểm tra xem bạn là người hay là chương trình tự động.

Google street view

Where can you sleep near Trans-Alaska Pipeline System ?

Booking.com
527.204 visits in total, 9.232 Points of interest, 405 Đích, 1.042 visits today.