Maasai Mara

Maasai Mara

Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara (còn được gọi là Masai Mara hay The Mara theo những người địa phương) là một khu dự trữ thú săn lớn nằm ở Narok, Kenya. Nó tiếp giáp với vùng đồng cỏ của Vườn quốc gia Serengeti ở Mara, Tanzania. Tên của khu bảo tồn để vinh danh những người Maasai (người dân tổ tiên ở khu vực này) và mô tả về khu bảo tồn khi nhìn từ xa, từ "Mara" trong ngôn ngữ Maasai có nghĩa là "đốm", hình ảnh của những tán cây, cây bụi và bóng mây trên khu vực đồng cỏ nhiệt đới.

Khu bảo tồn này nổi tiếng trên toàn thế giới nhờ số lượng đáng kể các loài Sư tử Masai (hay còn gọi là Sư tử Đông Phi), Báo hoa châu Phi và Báo săn Tanzania, đặc biệt là cảnh tượng di cư của các loài Ngựa vằn, Linh dương Thomson, Linh dương đầu bò đến và đi từ vùng đồng cỏ Serengeti trong khoảng thời gian từ tháng 7 - 10 hàng năm, được biết đến với tên gọi là Cuộc đại di cư.

Khu bảo tồn Maasai Mara chỉ là một phần nhỏ của Hệ sinh thái Đại Mara nằm tại các làng Koiyaki, Le...Xem thêm

Khu bảo tồn quốc gia Maasai Mara (còn được gọi là Masai Mara hay The Mara theo những người địa phương) là một khu dự trữ thú săn lớn nằm ở Narok, Kenya. Nó tiếp giáp với vùng đồng cỏ của Vườn quốc gia Serengeti ở Mara, Tanzania. Tên của khu bảo tồn để vinh danh những người Maasai (người dân tổ tiên ở khu vực này) và mô tả về khu bảo tồn khi nhìn từ xa, từ "Mara" trong ngôn ngữ Maasai có nghĩa là "đốm", hình ảnh của những tán cây, cây bụi và bóng mây trên khu vực đồng cỏ nhiệt đới.

Khu bảo tồn này nổi tiếng trên toàn thế giới nhờ số lượng đáng kể các loài Sư tử Masai (hay còn gọi là Sư tử Đông Phi), Báo hoa châu Phi và Báo săn Tanzania, đặc biệt là cảnh tượng di cư của các loài Ngựa vằn, Linh dương Thomson, Linh dương đầu bò đến và đi từ vùng đồng cỏ Serengeti trong khoảng thời gian từ tháng 7 - 10 hàng năm, được biết đến với tên gọi là Cuộc đại di cư.

Khu bảo tồn Maasai Mara chỉ là một phần nhỏ của Hệ sinh thái Đại Mara nằm tại các làng Koiyaki, Lemek, Ol Chorro Oirowua, Olkinyei, Siana, Maji Moto, Naikara, Ol Derkesi, Kerinkani, Oloirien, và Kimintet.

Typology
Position
1673
Rank
8
Photographies by: